TRÀ KIỆU: LỄ KHAI MẠC NĂM THÁNH GIÁO PHẬN



           Sáng sớm ngày 18/1/2013. Sân nhà thờ Giáo xứ đã nhộn nhịp vì Giáo dân tụ họp để lên đường hành hương Trà Kiệu tham dự Lễ khai mạc năm Thánh Giáo phận. Đông đủ các thành phần dân Chúa của Giáo xứ tham gia. Từ những bậc cao niên cho đến các em bé,  thôi thì đủ cả quý Soeur, quý chức, giáo dân chạy lên chạy xuống, gọi nhau, dặn dò, làm náo nhiệt cả sân nhà Thờ vốn thường nhật rất yên tĩnh.
          Khoảng 450 người  trên 8 chiếc xe khiến bầu khí lên đường thêm nức lòng hăng hái. Bắt đầu tập họp từ 6 giờ sáng, thế mà phải đến gần 7 giờ rưỡi chiếc xe đi đầu mới lăn bánh.            
           Kính mời Cộng đoàn xem lại một số hình ảnh để tường tận hơn về ngày Lễ.

                                        Cha Quản xứ ngồi xe số 6


                                        Trà Kiệu khi xe vừa tới





                        

                                       Thật cổ kính và thân thương      

            
               
                                 
                                   Cha điều khiển chung


                             Hai đại biểu của Thanh Bình


                                                  
                               Đức Giám Mục Giáo Phận 
                                  và Quý Đức Cha khách

                                         Quang cảnh trước Thánh Lễ
                                      
                                        
                                 Ban kèn Tây Đà Nẵng 

                                                  Khởi đầu đoàn rước


                                Giáo dân tham dự rất đông                      


                                Di ảnh Đức Cha tiên khởi Giáo Phận 
                          Phê-rô Ma-ri-a Phạm ngọc Chi
                                   
                            Một Cha Bề Trên ngoại quốc      

                                                                Quý Đức Cha
                                                 
                               Thánh Lễ đồng tế


                            Tạ ơn Chúa vì trời mát mẻ


                                         Đức Cha chủ Tế Phan-xi-cô 
                            Xa-vi-e Lê văn Hồng đang giảng

                                          
                                                             Dâng Lễ
                                        
                                            
                           Đức Giám Mục Giáo Phận công bố 
                          khai mạc năm Thánh Giáo Phận


                       ĐGM Giáo Phận tặng hoa cho quý  
                               Đức Cha  và hai Cha khách  

                     
                        ĐGM trao cờ lưu niệm cho Giáo xứ 
              
                                       
                                                   Sửa soạn ăn Trưa
                                                  
                                               Bữa ăn thân mật

        Đến khoảng 14 giờ, đoàn hành hương Giáo xứ Thanh Bình
lên xe tạm biệt Trà Kiệu sau khi đã cầu nguyện cùng Mẹ trên nhà Thờ núi. Hẹn gặp lại Cộng đoàn trong mục phóng sự khác.
                                        Gio-an Bao-ti-xi-ta Võ minh Tâm 
                             











                                   




                           





















TIN TỨC: LỄ KHAI MẠC NĂM THÁNH GIÁO PHẬN TẠI TRÀ KIỆU



Kính mời cộng đoàn xem lại một số hình ảnh về Thánh Lễ khai mạc năm Thánh của Giáo Phận tổ chức tại Trà Kiệu. 
                       Gio-an Nguyễn Huy Hoàng  thực hiện.

                                        Cầu nguyện trước khi lên đường



                                  Một tấm hình kỷ niệm




                                      
                                         Hoan hô Cha Bô-na Mai Thái


                                         Hoan hô Cha Giu-se Vũ Dần

                                       Hoan hô các Đức Giám Mục và phái đoàn các Cha
                                          
                                                            Đội dàn chào

                  Di ảnh Đức Giám Mục Tiên Khởi Đà Nẵng
                         
                                           Đoàn rước quý Cha đi trước

                                    Quý Giám Mục cất bước theo sau

                                                   Thánh Lễ đồng tế

         Cha Quản xứ dùng bữa với các em thiếu nhi                                  
                                     Gio-an Nguyễn Huy Hoàng

NGHỆ THUẬT NGHE VÀ NÓI





                             Vĩnh Biệt vì Ba Không Lắng Nghe Con

Thực tế mới làm người viết nhớ lại truyện cũ vì đã kể ở trong sách và ở nhiều lần chia sẻ.  Đó là ông Thương rất thương con, thương vợ, thương gia đình, thương mọi người. Nhưng ông rất khó thương vì ông chỉ thương theo cách của ông. Câu thường xuyên ông gắt lên trong gia đình là: “Vợ con mà không thương thì thương người hàng xóm à? Nhưng nước có luật thì nhà này cũng phải có luật.” Ông nói đúng nhưng làm sai, vì “luật” là vợ con phải nghe ông chứ ông không nghe vợ con. Khi hội họp việc chung, ông Thương cũng nói cùng chiều: “Cứ nghe tôi là mọi việc đều xong.” Đa số liếc mắt “đá lông nheo” làm hiệu để ông muốn nói gì thì nói, vì khi thỏa mãn tự ái rồi thì ông giúp đỡ tiền bạc rất hậu.
Trong các con của ông Thương, người khi nhỏ ông thương hơn cả lại là người khi lớn ông ghét hơn cả.  Đó là anh Tâm. Ông Thương không nghe Tâm, mà Tâm cũng không nghe ba. Cha con Thương&Tâm cư xử với nhau tương tự chuyện này: Vua cha băng hà, và vua con lên kế vị. Bàn dân tưởng vua cha làm thế nào thì vua con cũng làm thế, nhưng vua con đảo ngược. Điều cha ra lệnh làm thì con ra lệnh bỏ, còn điều bỏ thì làm. Vua con tự bênh vực mình: Trẫm làm giống như vua cha, vì cha không nghe ai mà bàn dân phải nghe cha, thì trẫm cũng không nghe ai, mà ai cũng phải nghe trẫm.”
 

Cách cư xử trong nhà ông Thương cũng “truyền ngôi” như vậy, vì ông la gắt và các con cũng la gắt giống ông. Cao điểm của đời sống một chiều chủ quan, của con tự ái giống bố, của không ai nghe ai, chính là cái chết thật thương tâm. Đó là một tối nọ, anh Tâm cầm chìa khóa xe ra cửa. Ông Thương quát: “Liệu hồn về đúng giờ. 11 giờ mà chưa về thì chết với tao.” Anh Tâm mặt vênh vểnh giống như ông Thương cũng vểnh mặt nhìn con. Bốn mắt giao nhau không để tỏ tình thương nhau, mà để thách thức. Nửa đêm anh chưa về; khi về thì gần một giờ sáng. Ông Thương cầm sẵn cái cán lau nhà, vừa phang vào người Tâm vừa hét: “Mày không nghe tao hả. Không nghe này… Không nghe này…” Mỗi tiếng hét “không nghe” là mỗi cái quật. Tâm hét lại: “Ba nghe con nói… Nghe con… Nghe…” Vừa hét vừa đỡ đòn, rồi chạy xốc vào phòng. Sau vài giây, Tâm đạp phăng cửa, ra sừng sổ to hơn nữa: “Ba nghe… Nghe con…” Ông Thương giơ cái gậy thẳng cánh: “Nghe này… Nghe…” Tâm cúi đầu tránh kịp, chạy biến vào trong phòng. Sập cửa “rầm.” Nhà yên lặng. Cái yên lặng rợn người giữa nửa đêm về sáng. Yên lặng ngột ngạt. Yên lặng chết người. Rồi thình lình có tiếng nổ chát chúa. Ông Thương sấn sổ muốn nhẩy vào phòng Tâm, nhưng cửa khóa. Khi cậy được cửa thì Tâm ngấp ngỏai trên vũng máu, mắt trợn trừng. Ông Thương xốc con lên đúng lúc con thì thào “Ba không nghe con…” Ông quát “mày không về đúng giờ thì chết với tao” và con đã chết trên tay ông.
Thương con thì có mà hiểu con thì không
Không ai lắng nghe ai
Ba không lắng nghe con
Con không lắng nghe ba
Nên con chết trên tay ba.
Khi hòan hồn, ông Thương nhìn xung quanh thì thấy cây súng lục của ông nằm lăn trên vũng máu còn nóng hổi. Tâm dùng ngay súng của ba để bắn chết mình. Bên cạnh là tờ giấy nguệch ngọac hang chữ: “Vĩnh biệt ba vì ba không lắng nghe con.”
Ông Bush gây ra chiến tranh Iraq phải chăng vì không lắng nghe quốc hội, không lắng nghe triệu triệu tiếng nói? Quân khủng bố gây ra những khủng bố rợn rùng, phải chăng vì người lãnh đạo độc tài lừa lọc, không tạo cho dân lành nghe theo tiếng lương tâm, mà đánh lạc lương tâm họ, bằng cách nhồi sọ “Cứ ôm thuốc nổ đi. Chết xong là có bốn trinh nữ chờ sẵn...” Nhiều đòan thể, người có trách nhiệm, và nhiều người cha, người mẹ cũng đánh lạc lương tâm mình và lương tâm người nghe bằng những lý luận, hoặc những hứa hẹn mơ hồ, mộng tưởng, nửa thật nửa giả, nên cũng tạo ra những hậu quả thương tâm như cha con ông Thương & Tâm.
Muốn nghe thì cần có người nói.
      Trừ người thánh hay người điên, còn người bình thường dễ sợ hãi, không dám ở trong nghĩa địa, vì các người trong nghĩa địa không nói; mà nếu người chết nào từ trong mồ chui ra để nói thì người sống lại càng sợ, hú hồn.
      Vì vậy ai im ỉm không nói, thì xác còn sống nhưng con tim giá lạnh như đã chết. Người sống cần sống gần thân xác còn nói chứ không gần thân xác bất động, rữa thối trong nghĩa địa.
      Còn ai nói châm chọc, cay đắng, nói gian dối, vu khống, nói dựng chuyện, rỉ tai, v.v., thì đặt người nghe vào ổ kiến lửa; bị châm chọc, đau đớn. Con người cần tránh đau đớn, nhất là đau đớn đời sau, nên cần xa tránh, không nói vu khống, xuyên tạc. Nhất là tránh cố ý xuyên tạc.
      Vợ chồng bỏ nhau, con bỏ nhà, bạn hữu bỏ nhau, thường là do phải sống với người có miệng cũng thừa, vì miệng để nói mà không nói; hoặc do phải sống với người thừa miệng, vì nói thừa thãi, độc địa. Người miệng thừa hay người thừa miệng đều xô đẩy người gần mình vào cảnh nghĩa địa hoặc cảnh kiến lửa. 
Và đa số  chỉ muốn nói khi có người nghe. Nói mà không cần ai nghe thì đó là nói nhảm, nói điên, trừ trường hợp “nói với mình” trong khoa chữa bệnh tâm lý. Đây là cách mình nói cho mình nghe được tiếng mình để thấy được tâm tính của mình, thấy con người thật của mình. Như vậy trong cách tự nói để chữa tâm bệnh này vốn có người nghe, đó là mình. Tưởng sẽ trở lại chủ đề này trong một bài khác.
      Có người nghe lơ đãng, nghe “để ngòai tai,” nghe vô hồn, nghe khách sáo, nghe xã giao, v.v. Nghe mà không chú ý, không nghe “hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức lực” thì không đem lại nhẹ nhàng thỏai mái cho người nói.
      Thà lắng nghe trong 5 phút hay 15 phút, còn hơn bị hờn giận trong 5 giờ, 5 ngày, có khi 5 tuần. Và như ba Thương và con là Tâm, vì thiếu lắng nghe nên đưa tới cái chết thương tâm!
Có khi chỉ  cần lắng nghe mà không cần cho ý kiến, không cần giúp giải pháp, vì người nói biết giải pháp rồi. Nói vì có nhu cầu nói, chứ không có nhu cầu tìm giải pháp. Đa số chỉ cần chú ý lắng nghe là đã giải tỏa cõi lòng. Như khi vợ hay chồng bị căng thẳng trong sở làm, trong hội đòan, trong việc buôn bán thương mại, hoặc trong việc bị tán tỉnh trăng hoa. Lúc đó mà mở miệng khuyên bảo, nhất là mở miệng ghen tương, thì đúng là ghen. Là mất trí vì ghen. Lúc đó chỉ cần dịu dàng lắng nghe. Ân cần lắng nghe. Vừa nghe vừa nhìn chăm chú. Yêu thương. Gật đầu. Lắc đầu; v.v., thế là người nói cảm thấy nhẹ bẫng như tơ hồng. Tình yêu sẽ chung thủy trọn đời, đời đời, “Giữ Được Vợ” như anh Vọng nhờ biết lắng nghe tích cực.
Tuy nhiên, nếu người nói có giới hạn thì người nghe còn có  giới hạn hơn nữa, nên không thể nghe hòai. Do đó người nói và người nghe đều cần cố gắng, cần cầu nguyện, để “nói ngắn hơn” và “nghe dài hơn.” Chẳng hạn, nếu nói thỏa thích thì cần nói liên tục trong vài giờ. Nhưng vì biết người nghe không chú ý hòai được, và còn nhiều việc khác chứ không phải chỉ có một việc nghe mình nói, nên cố gắng rút gọn, nói trong 20 phút, hoặc tối đa là nửa giờ.
      Muốn nói ngắn thì hãy tưởng tượng như mình đang phải bỏ thời giờ ra để chú ý nghe chính những điều mình nói. Trong văn phòng tâm lý, có lọai chỉ ngồi để nghe nên con bệnh nói lâu bao nhiêu cũng được, nhưng phải trả  “công nghe,” có khi 300 đôla một giờ.
      Còn người nghe chưa đầy 5 phút đã muốn chặn họng, cắt ngang, ngáp dài, vươn vai, bẻ tay, nhìn giờ, v.v., thì cần nguyện tắt trong lòng: “Giêsu, Maria, Giuse. Con mến yêu. Xin cho con nhẫn nại, lắng nghe ít là 30 phút mà không cần khuyên bảo.”
      Nói mà nói ngắn, nghe mà nghe dài thuộc hàng nhân  đức. Không mến Chúa và yêu người chân thật thì  khó mà “nói ngắn, nghe dài.” Vì bác  ái nên cần tránh là gánh nặng cho người nghe vì  nói dài; và tránh là gánh nặng cho người nói vì nghe lơ đễnh.
Có khi chỉ  cần “nghe” bằng sự hiện diện, và  đây là việc tông đồ, thuộc hàng “Mục Vụ  Hiện Diện.” Sự chú ý, mắt nhìn, thái  độ ân cần, cử chỉ kính trọng, tòan thân tỏ ra sự quan tâm săn sóc, “ít lời nhiều lòng,”  đó là điều cần thiết và mang lại kết quả tốt trong đám tang, cũng như trong đám cưới, đám ăn sinh nhật, kể cả đám cãi nhau.
Nhân đức lắng nghe cần đi đôi với nhân đức giữ  kín đáo điều mình nghe. Gọi là nhân đức vì nếu biết kiên nhẫn lắng nghe và biết giữa kín đáo vì bác ái thì được an vui đời này và được Thiên Đàng đời sau. Kinh Thánh ghi nhận sự lắng nghe kín đáo này “Còn bà Maria thì hằng ghi nhớ những kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng” (Lk. 2: 19); hoặc “Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ những điều ấy trong lòng” (Lk. 2: 51). Nghe mà nói ra thì dễ làm cho người nói bị chạm tự ái, bị mất danh dự. Và làm cho mình bị mất tín nhiệm; bị tiếng là nông nổi, trống miệng.
Nghe hoặc lắng nghe là điều khẩn thiết đến mức Thượng Đế cũng nói và nghe. Kinh Thánh ghi Lời của Giêsu Vua Tình Yêu: “Lạy Cha, nếu đó là ý Cha thì xin cất chén này khỏi con, nhưng không phải theo ý con mà theo ý Cha được thể hiện” (Lk. 22: 42); hoặc “Lạy Cha, con cảm tạ Cha vì đã nghe con. Con biết rằng Cha luôn nghe con…” (Jn. 11: 41); v.v. 
Kết lại trong một câu là “Nói ít, Nghe nhiều.” Nếu ông Thương biết “Nói ít, Nghe nhiều” thì hẳn đã tránh được cái chết thương tâm của con, đã không phải đọc mẩu giấy bê bết trong vũng máu “Vĩnh biệt vì ba không lắng nghe con.”◙ 
                                                              LM Phêrô Chu Quang Minh, S.j.
                                                Gio-an Nguyễn Huy Hoàng sưu tầm và gởi đăng
               (Kính xin Cha Phê-rô cho con được trích đăng khi chưa gặp Cha để xin phép)

HẠNH PHÚC HIỆN TẠI






HẠNH PHÚC HIỆN TẠI



Có không biết bao nhiêu cặp vợ chồng, từ bao nhiêu năm cứ để mặc tình trạng “khắc khẩu”, tình trạng “xung khắc” bất hòa giữa hai vợ chồng kéo dài năm này tháng nọ. Họ không buồn bỏ một chút thì giờ để tìm hiểu lý do của sự khắc khẩu, sự nghịch ý và tìm cách khắc phục để gia đình có một đời sống hạnh phúc, an vui.
Họ không ý thức được rằng, hạnh phúc có sẵn trong hiện tại, trên con đường chúng ta đang đi…
 
Chỉ một việc chúng ta được sống độc lập, nghĩa là có thể thấy, nghe, đi, đứng, ăn uống, không bệnh hoạn, có cơm ăn, có áo mặc, có nhà ở và được bình yên đã là một hạnh phúc vô cùng trong đời, mà ít người ý thức, vì người ta cứ mải mê theo đuổi những mộng tưởng xa xôi, thả hình bắt bóng.
Nếu tuần nào không bận rộn với những sinh hoạt cộng đồng, hai vợ chồng tôi đi ăn nhậu tiệc tùng ở nhà bạn bè, sẽ có dịp nghe các bà, sau khi ăn no kéo nhau ra phòng khách, đem ông chồng yêu quý của mình ra tố khổ.
Câu chuyện của chị Hồng làm tôi suy nghĩ rất nhiều, từ câu chuyện đó tôi suy ra một triết lý… sống hạnh phúc ngay bây giờ và ở đây.
Chị Hồng kể, chị với hai con qua Mỹ mấy mẹ con vất vả lúc đầu nhưng dần dần đã tạo được cuộc sống tốt đẹp. Chị mua được một cái nhà hàng nho nhỏ và các con đã ăn học nên người. Hơn mười năm sau ông chồng sang Mỹ. Trong thời gian xa cách hơn một chục năm đó hai người đã hoàn toàn thay đổi. Chị Hồng đã quen đời sống Tây phương, tháo vát, lanh lợi, còn ông chồng, sức khỏe yếu kém,  ông rất chậm chạp, có thể nói là cù lần so với bà vợ.
Tinh thần chị Hồng luôn bị căng thẳng, lo âu vì việc làm ăn buôn bán, cạnh tranh, lại thêm thân xác quá mệt mỏi vì làm việc nhiều giờ ở nhà hàng nên lúc nào chị cũng cau có, gắt gỏng như bệnh thần kinh hay xì-nẹc vô lý, càng làm cho ông chồng thêm buồn tủi thân phận sống bám vào vợ.
Một hôm ông chồng bệnh, bảo chị Hồng rót cho một ly sữa. Chị càu nhàu: - Thì ông đi lấy đi, còn đi được, chưa bệnh nặng mà.
Ông chồng đổ quạu: " tôi bệnh bà biết không?
Chị Hồng với tay lấy ly nước trà chị đang uống, đổ sửa vô rồi đem lại cho ông chồng. Chị dằn mạnh cái ly lên bàn nói “uống đi”, rồi quay lưng đi.
Ông chồng nổi giận bắt đầu to tiếng: - Bà đã đi quá mức của một người vợ, không coi chồng ra gì!.
Chị Hồng trả lời lại: - “Bây giờ bình quyền rồi, không có chuyện chồng chúa vợ tôi. Ai cũng phải làm việc để kiếm sống, không ai hầu ai cả”.
Chị lằng nhằng không dứt lời.
Ông chồng thấy cái gì màu đen giống con ruồi trong ly sữa, ông la lên: - Bà cho tôi uống sữa với ruồi, bà biết không?
Chị Hồng bình thản đáp: - Thì vớt nó ra. Hồi xưa, đang ăn phở con ruồi bay rớt vô tô phở mình vớt bỏ đi, rồi ăn tiếp có sao đâu.
Ông chồng nổi cơn, nhắc lại đủ thứ chuyện buồn phiền chất chứa trong lòng bấy lâu nay. Ông chồng chưa dứt lời thì bà vợ phản pháo ngay bằng những lời lẽ thật đanh đá. Cả hai trao đổi nhau những câu nói chanh chua, độc ác cho hả giận.
Trong cơn nóng giận đó, họ không có thì giờ suy nghĩ, cân nhắc từng lời nói, nên những lời lẽ thật tàn nhẫn, độc địa được bắn thẳng vào tai, vào tim hai người và đã để lại nhiều vết thương không hàn gắn được.
Không dằn được cơn giận, anh chồng nói: ”Không thể tiếp tục được nữa, phải ly dị”.
Bà vợ trả lời ngay: - Càng sớm càng tốt, bỏ ông ra tôi dư sức lấy một chục thằng hơn ông.
Ông chồng không chịu thua nói: - Phen này ông về quê, ông lấy gái còn trinh chứ không lấy bà già ó đâm như bà .
Chị Hồng chạy vội ra xe : - Tôi đi tới văn phòng luật sư ký giấy ly dị ngay bây giờ đây.
Tại văn phòng luật sư, chị Hồng gọi điện thoại về cho hay luật sư đòi phải đặt trước hai ngàn đô và không trả lại nếu sau này họ đổi ý không muốn ly dị. Ông chồng đồng ý ngay, rồi buồn bã đứng dậy bước lại bồn rửa chén, đổ ly sữa. Bên cửa sổ có ánh sáng, anh chồng mới thấy miếng đen trong ly sữa là lá trà trong ly chị Hồng đã uống. Thì ra cả hai vợ chồng cãi nhau rùm beng, làm mất đi một buổi sáng đẹp trời chỉ vì xớn xác thấy lá trà mà tưởng là con ruồi. Anh chồng ân hận cho sự nóng nảy của mình. Không phải hai vợ chồng chỉ mất đi một buổi sáng đẹp trời mà mất luôn hai ngàn đô, đấy là may nếu không thấy lá trà thì họ đã ly dị, gia đình ly tan, con cái buồn khổ, chỉ vì nóng nảy, lầm lẫn. Lúc nóng giận đầu óc người ta không sáng suốt, nói nặng không tiếc lời.
Hai vợ chồng tiếp tục sống chung, ăn chung, ngủ chung nhưng không hạnh phúc, không ai nhường nhịn ai. Ai cũng có cái “ngã” quá to, tự cho mình đúng rồi rống họng cãi, mạt sát lẫn nhau. Họ để mặc cho tình trạng khắc khẩu kéo dài vì tin là tuổi của họ xung khắc, số con chuột, con mèo, con rắn, con heo gì đó… tứ hành xung, vì tình nghĩa không ly dị, nhưng không thể sống thuận hòa, hạnh phúc với nhau được.
Một hôm có một người khách đến ăn ở nhà hàng đưa cho chị Hồng xem hình họ vừa xây một căn nhà rất khang trang bốn từng lầu tuyệt đẹp ở quê nhà mà tốn có bảy chục ngàn mỹ kim. Chị Hồng cầm cái hình ngắm tới ngắm lui thích quá, muốn về  xây một căn như vậy cho cha mẹ ở bây giờ và một ngày nào đó về hưu hai vợ chồng về quê, thì có căn nhà tiện nghi. Ở đây chắc con cái sẽ bỏ cha mẹ vô viện dưỡng lão, thêm buồn tủi.
Thế là chị Hồng tự ý bay về quê hương hai tháng để tận mắt trông coi việc xây cất căn nhà theo ý chị muốn. Trước khi đi chị dặn dò mấy đứa con, coi chừng ba, đừng để ổng đi nhậu nhẹt, gặp gỡ bà này bà nọ lúc mẹ vắng nhà. Hai đứa con nghe lời mẹ, để ý canh chừng ông già. Ông chẳng đi đâu cả, buổi tối sau khi đóng cửa nhà hàng về ông ngồi gõ lóc cóc trên keyboard computer đến quá nửa đêm, “chat” với mấy cô gái muốn lấy chồng Việt Kiều. Chỉ trong vòng hai tháng là tình nồng say đắm nẩy nở giữa chồng chị và cô gái tuổi đáng con . Câu chuyện tình ảo trên net đã thúc đẩy anh chồng quyết về Quê hương một chuyến để gặp người tình trong mộng, trên net.
Khi chị Hồng trở về Mỹ, hí hửng với mấy cái hình căn nhà khang trang ở quê hương thì ông chồng chị quyết liệt đòi về để xem tận mắt căn nhà. Cố nhiên chị Hồng không cho ông ta về một mình, cho chồng về một mình rất nguy hiểm, dễ bị các cô gái tơ  quyến rũ. Nhưng nay với tình yêu thúc đẩy ông chồng chị Hồng quyết “quật khởi” , không chịu đựng sự chỉ huy, theo ý kiến của vợ nữa. Chị Hồng giận lẫy, cảnh cáo là khi ông trở về thì ông cuốn quần áo ra khỏi nhà. Ly dị. Ông chồng nghĩ bụng “càng tốt”.
Khi về tới, việc đầu tiên là anh chồng đi tìm gặp người tình trên net.
Trời ơi! Hình trên net thì cô ta đẹp và duyên dáng, còn trên thực tế thì xấu ơi là xấu và qua nhiều câu chuyện thì anh chồng thấy rõ là cô này “bắt địa”, moi móc tiền Việt kiều hơn là có tình yêu chân thật. Cô này muốn đi Mỹ với bất cứ giá nào, chuyện sống hạnh phúc hay không thì hạ hồi phân giải, còn ly dị cũng không sao, miễn được đi Mỹ. Ông chồng thất vọng, lo ngại, tiếc công xúc tép nuôi cò, không biết cò ở với ông được bao lâu mà trước mắt là phải hy sinh bà vợ già... Sau vài lần gặp gỡ anh chồng quyết ở lại với vợ “ta về ta tắm ao ta” cho chắc ăn.
Từ đấy ngày nào anh ta cũng o bế đưa ông bà già vợ đi ăn , đi chơi, như một thằng rể có hiếu. Chị Hồng ở nhà lục lạo hết phòng này tới tủ nọ cố tìm một chứng tích để hiểu vì sao ông nhất quyết đòi về, phải có một động cơ nào đó thúc đẩy ông ta mới quyết liệt như vậy.
Moi móc hết quần áo ở mọi góc kẹt, chị mới thấy một hộp bánh biscuit được gói kỹ, tim chị đập mạnh, hội hộp mở ra từ từ, trong đó có một cuốn sổ tay nhỏ và một xấp thơ cũ giấy đã bạc màu. Chị mở cuốn sổ nhỏ ra đọc mới biết đó là quyển nhật ký, ông chồng viết rất ngắn gọn những tâm tình thật buồn tủi về cuộc đổi đời, bây giờ không còn uy quyền của một cấp chỉ huy, một người chồng, người cha trong gia đình… Ông ghi lại sự chịu đựng, chấp nhận cuộc sống hiện tại, nhất là nỗi buồn tủi phải sống bám vào vợ, vì tuổi đã lớn không thể làm lại từ đầu…
Đọc tới đây chị Hồng thấy cảm động ứa nước mắt, bây giờ chị mới cảm thông, thương xót, tội nghiệp chồng.. Từ trước tới giờ mỗi lần nổi cơn là chị la cho hả giận, chứ không hề nghĩ tới tinh thần ông chồng đã bị khủng hoảng trước cuộc đổi đời, và chị cũng không biết giọng nói thường nhật vô tình của chị đã làm chạm tự ái ông chồng rất nhiều, đã để lại trong tâm thức ông nhiều đau thương, buồn tủi không tả được.
Chị Hồng bỏ cuốn nhật ký xuống, đọc tiếp xấp thư, thì ra đây là những cái thư chị đã gởi cho anh chồng từ lúc hai người mới yêu nhau. Chị thật xúc động khi thấy anh chồng vẫn còn giữ kỹ những kỷ vật này.
Chị đọc cái thư thứ nhất, có những lời lẽ thật ngọt ngào, nũng nịu dễ thương "anh dễ ghét ghê! Anh biết là xa anh em nhớ anh thấy mồ không? Lần sau hễ em gọi điện thoại, dù anh bận đến đâu anh cũng phải gọi lại liền, nếu không em sẽ bắt đền…” Kèm theo thư là cái hình chị lúc 18 tuổi. Trời lúc đó mặt mũi xinh ghê, đã xinh đẹp còn ngọt ngào nữa chẳng trách ông chồng trồng cây si, đòi làm đám cưới sớm. Cái thư có ép hoa pensée nữa, tình thuở ấy thiệt là thơ mộng.
Chị Hồng với tay lấy cái gương trên bàn, soi lại mặt mình bây giờ…hỡi ơi, năm tháng đã để lại trên mặt chị nhiều nếp nhăn, đã già nua mà lúc xì-nẹc chị còn cau có, chẳng trách sao bây giờ chồng muốn thương mà thương không vô.
Chị Hồng đọc tiếp cái thư thứ hai, cái nào cũng có kèm theo một cái hình rất xinh, hồi đó có bao nhiêu tiền mấy cô gái cũng đem đổ cho máy tiệm chụp hình ăn.
Trong thư chị viết: “ Em nhớ buổi chiều mình dạo chơi trong công viên, trời bắt đầu mưa nhẹ hạt, anh ôm, che mưa cho em, trong vòng tay thương yêu của anh, em cảm thấy thật ấm êm, hạnh phúc. Em mong vòng tay thương yêu này che chở em mãi suốt cuộc đời…” .
Chị Hồng nhớ lại …mới cách đây mấy hôm, hai vợ chồng lái xe khi trời tuyết. Nhìn những bông tuyết rơi
nhẹ càng thú vị hơn mưa rơi nhiều, nhưng bây giờ già hay quạu bậy, đường trơn trợt , ông chồng ghì chặt tay lái, trong lúc chị càu nhàu:
- Ông lái xe kiểu gì kỳ cục vậy, sang “lane” sao không ra signal, hồi nãy bảo đi đường trong ông không chịu, ông đi đường ngoài bây giờ không nhớ đường. Tôi nói với ông hoài, lên xe thì phải coi bản đồ trước, định hướng, bây giờ sắp trễ chuyến bay mà còn lần quần không biết đường, khổ không?.
Ông chồng cự lại: - Bà giỏi bà lái đi!
- Tôi không lái xe được trên xa lộ, trời tuyết.
- Không lái được thì im đi để người ta lái. Đã lạc đường còn nghe cằn nhằn có bực không?
Cái thư thứ ba cũng có lời lẽ nồng nàn tha thiết lắm.
-Em mong khi mình về sống với nhau rồi, mỗi đêm em sẽ đưa anh vào “rose garden”
(vườn hồng) thật thơ mộng.
Thực tế bây giờ cứ mỗi lần ông chồng lại gần thì chị nhăn nhó: - Mệt quá đi thôi! làm việc đầu tắt mặt tối cả ngày mà tới giờ này ông còn bắt làm thêm job đêm!
Ông chồng chịu đấm ăn xôi, choàng tay qua ôm vợ.
Chợt nhớ tới mấy cái bills, chị Hồng hỏi :
-Cái bill nước anh trả chưa, nếu để trễ là họ cúp nước cho mà coi.
Nghe cúp nước ông chồng hoảng quá, tuột xuống giường đi tìm cái bill coi đã trả chưa.
Vừa trở lại đặt lưng xuống giường nằm thì chị Hồng nói, đã nhắc anh bỏ vô băng IRA hai ngàn để được trừ thuế, anh bỏ chưa?. Cái máng xối rớt tòn teng cả tháng nay, chừng nào anh mới sửa?
Ông chồng kêu trời: - Trời ơi! sao cứ tới giờ tôi leo lên giường nằm cạnh bà, bà hỏi đủ thứ chuyện như vầy, làm sao hứng nổi, thôi bỏ mẹ nó qua hết đi, tính sau…
Xếp lại xấp thư cũ, chị Hồng ưu tư nghĩ đến hai chữ “vô thường”, quả thật vạn vật luôn đổi thay. Từ một cô gái xinh đẹp hiền dịu nay trở thành bà già xấu xí, hay gắt gỏng, khó thương. Ngày này qua ngày khác chị đã quá bận rộn chạy đua với cuộc sống đến nỗi không có thì giờ dừng lại để suy nghĩ, tìm hiểu coi mình đã sống như thế nào? Mình đã sống với ý thức hiện hữu và sống hạnh phúc trong từng phút, từng giây hiện tại?
Vì cuộc sống quá bận rộn, bon chen để cung ứng những nhu cầu, tiện nghi vật chất, rõ ràng là chị đã đánh mất quá nhiều hạnh phúc hiện tại của mình cho những vọng tưởng điên đảo, được, mất, hơn , thua, vinh, nhục, buồn, giận, thương, ghét. Khoắc khoải trong âu lo, toan tính, sân hận , thù oán, trong nuối tiếc ký ức, trong ước vọng tương lai và ngay cả giờ phút này chị cũng đang lao chao vọng động…sự bất an có mặt thường trực trong đời sống tinh thần, tâm linh của chị.
Chỉ những giây phút thật lắng đọng tâm tư như thế này chị mới thấy thương chồng và ân hận về cách cư xử tồi tệ với chồng. Ngày hôm sau chị quyết định làm mới lại cuộc tình bằng cách sẽ sửa đổi để được dễ thương như ngày xưa. Chị đi chợ mua cho chồng vài cái cà vạt, vài đôi vớ, quần áo mới, rồi gói lại cẩn thận trong giấy kiếng màu thật đẹp, như gói quà Giáng sinh. Chị dự định khi chồng  về chị sẽ bịt mắt anh chồng lại, đem quà ra bày một bàn rồi mở mắt anh ta ra cho xem, chắc chắn là anh ta sẽ rất vui mừng và hạnh phúc trước sự đổi mới này .
Trong lúc chị đang quyết tâm làm mới lại cuộc đời thì có người bạn rủ chị đi dự lớp thiền ở chùa gần nhà, chị nhận lời đi ngay. Ở thiền đường, các thiền sinh ngồi thành một vòng tròn. Bên cạnh thầy, tất cả cùng thư thả uống trà và bàn chuyện đạo (trà đàm) và nghe pháp thoại, có lúc cùng nhau hát những bài thiền ca, để ý thức sự sống nhiệm mầu trong giờ phút hiện tại, vui như trẻ thơ. Trong môi trường trong sáng này, chị cảm thấy như đã thoát vòng tục lụy, bước vào niết bàn ở thế gian. Chưa bao giờ chị có được cảm giác an lạc thanh thản, tâm hồn rộng mở, tha thứ, bao dung, vui tươi, hồn nhiên như vậy.
Thầy giảng về sự “cảm ơn” và “ái ngữ”. Trong lúc lắng nghe chị nhìn xuống như để thấm thấu hết những lời giảng vàng ngọc của thầy. Suy nghĩ kỹ lại thì chị chưa bao giờ nói lời cảm ơn chồng và con cái, mà chính thực chị đã mang ơn họ rất nhiều. Chồng là người đầu gối, tay ấp đã chia xẻ với chị biết bao nhiêu khổ cực, buồn vui của cuộc sống. Chị cũng chẳng có để ý tới hai chữ “ái ngữ” là những lời nói êm đẹp, đem lại hạnh phúc cho nhau. Từ trước tới giờ hễ nổi cơn lên là chị nói, chị nói bất cứ cái gì vụt hiện ra trong óc, nói cho hả giận, không cân nhắc, đắn đo hậu quả gì cả.
Càng nghe thầy giảng chị càng ân hận cho những gì mình đã nói, đã làm một cách vô minh từ trước tới giờ. Tối hôm đó, chị gọi điện thoại cho chồng với những lời lẽ rất ngọt ngào, êm dịu, chị dặn dò anh chồng cứ vui chơi bên nhà, khi về thì nhớ mua cho chị mấy thức ăn như khô cá thiều, khô lan phòng, mứt me…chị thực sự nôn nóng mong cho mau qua một tuần để đón chồng về. Cuộc đời của hai người từ nay sẽ đổi khác, sẽ không còn khắc khẩu , xung khắc như trước nữa.
Hai ngày sau, đứa cháu  gọi điện thoại qua cho hay chồng chị bị “Nhồi máu cơ tim” trong lúc tắm biển với mấy cháu và tắt thở trên đường đưa tới bệnh viện cấp cứu. Chị vội vã bay về Quê nhà , cố nhiên chị đem theo những món quà đã gói trong giấy kiếng thật đẹp. Lúc tẩn liệm, chị đã liệm theo quan tài những món quà này với thật nhiều nước mắt…đã muộn rồi!.
Ai cũng biết đời là vô thường, hãy sống trọn vẹn những giờ phút hiện tại, biết là biết vậy nhưng người ta cứ để cho đời trôi lãng, để cho biết bao phiền muộn cứ hòa quyện theo tâm hồn ta trong mỗi phút giây. Có một lúc nào đó dừng lại, thử hỏi, chúng ta đã bỏ biết bao nhiêu sinh lực, công sức để có được một tình yêu như ý, một danh vọng như ý, một tài sản như ý và rằng chúng ta thực sự đã sống với cái “như ý” đó một cách hạnh phúc không? Rõ ràng là chúng ta vẫn còn nhiều phiền muộn và cay đắng mà phần lớn là bởi bám víu, dính mắc với “cái tôi”, “ cái của tôi”, và cái tự ngã của tôi”. Đó là chưa kể cái tâm thức đang bị thiêu đốt bởi những khao khát, ước mơ và lo âu …
Để thoát ly mọi phiền não, để xa lìa mọi mộng tưởng, đảo điên, cuồng si, chúng ta hãy tập sống buông xả , “không phân biệt”. Hãy ý thức mình đang sống, trong từng hơi thở, trong mỗi bước chân, hãy an trú vững chắc trong hiện tại - sống hạnh phúc ngay bây giờ và ở đây.

                                                                             Trích CTTTHNGĐ
                                             Minh Thuy Linh sưu tầm và gởi đăng