Chấp nhận sự khác biệt



                Chấp nhận sự khác biệt là bao dung và tôn trọng

Thiên Chúa tạo dựng vạn vật muôn màu muôn vẻ với tất cả sự phong phú và đa dạng, không cái nào giống cái nào. Trên đời không bao giờ có hai vật hoàn toàn giống nhau, thế nào chúng cũng phải có ít nhiều khác biệt: có thể rất ít mà cũng có thể rất nhiều. Sự khác biệt đó thật là tự nhiên, và chắc chắn nằm trong chương trình của Thiên Chúa. Nhờ sự khác biệt đó, vũ trụ vạn vật mới tươi đẹp, phong phú, rực rỡ. Nếu vạn vật chỉ có một loại duy nhất, cái nào cũng giống cái nào thì vũ trụ và thế giới này sẽ buồn thảm đơn điệu như thế nào!

Nơi con người cũng thế, không ai giống ai, từ khuôn mặt cho tới tính tình, từ thể xác tới tâm hồn, mỗi người một vẻ, mỗi vẻ mỗi khác. Tuy khác nhau, nhưng mỗi người đều có cái hay và cái dở riêng, không ai hoàn hảo cả. Người được cái này thì mất cái kia, người được cái kia thì lại mất cái này. Vì thế, để được cả cái này lẫn cái kia, người được cái này phải hợp với người được cái kia thì sự trọn vẹn cả để con người cần lẫn nhau, bổ túc lẫn nhau, có thế con người mới yêu thương nhau. Nếu ai cũng được đủ mọi mặt thì còn ai cần tới ai nữa, còn ai cần hợp tác với ai nữa, và tình yêu cũng khó phát sinh. Tình yêu phát sinh do sự khác biệt, có khác biệt mới thu hút lẫn nhau. Âm thu hút dương, dương hấp dẫn âm, còn âm với âm, dương với dương thì đẩy lẫn nhau.

Trong chương trình của Thiên Chúa, sự khác biệt và không hoàn hảo khiến người ta phải hợp lại với nhau thành gia đình, xã hội để bổ túc lẫn nhau mà tồn tại và phát triển. Không ai sống một mình mà đầy đủ được. Muốn tồn tại và phát triển ta phải nhờ tới biết bao người khác: Ðể hiện hữu ta phải nhờ cha mẹ, để có gạo ăn ta phải nhờ bác nông dân, để có áo mặc ta nhờ người dệt vải, để có sức khỏe phải nhờ bác sĩ... Sự khác biệt cần thiết và ích lợi như vậy. Nhưng cái lợi nào cũng có mặt trái của nó. Sự khác biệt cũng thế: hễ khác thì thường là khắc. Khắc là không hợp nhau, mâu thuẫn nhau, xung đột lẫn nhau. Mà hễ đã không hợp nhau, hễ có sự xung đột là phải có khó chịu, đau khổ. Ðó là cái giá phải trả của sự khác biệt, của sự hợp tác, bổ túc lẫn nhau. Hễ giống nhau thì đâu bổ túc cho nhau được, có hợp tác với nhau cũng chẳng đi đến đâu. Không chấp nhận khó chịu, đau khổ do sự khác biệt gây ra thì chẳng xây dựng được gì cả.

Thật vậy, con diều bay lượn lơ lửng trên bầu trời được là nhờ hợp tác với sợi dây. Nhưng sự hợp tác đó không phải là không có đau khổ. Con diều cảm thấy thực là bực bội vì sợi dây: nó muốn bay cao hơn, xa hơn, mở rộng phạm vi hoạt động ra, nhưng sợi dây cứ cầm giữ nó lại một cách thật là nghiệt ngã. Còn sợi dây cũng bực bội không kém: nó muốn được tự do bay lơ lửng trên bầu trời một cách thoải mái để ngắm sông núi bên dưới, nhưng con diều lúc nào cũng lôi kéo nó đi hết chỗ này tới chỗ kia, nhiều lúc kéo căng quá làm nó như muốn đứt. Thật là khó! không chịu đựng nổi nhau nữa, hai đứa quyết định chia tay, hy vọng đứa nào cũng sẽ được tự do theo ý mình trên bầu trời rộng thêng thang. Nhưng khi chia tay, sự việc đã không xảy ra như chúng mong ước mà tệ hại hơn trước rất nhiều. Tất cả đều rơi xuống đất! Ðó là kết quả của việc không chịu đựng nhau!
Cái lý hợp tác sống chung là như thế! Không hợp tác, không sống chung thì không thể làm được việc gì. Hay chỉ hợp tác với những người giống mình thì cũng thế. Mà sống chung, hợp tác với nhau giữa những người khác nhau thì thật là khó chịu. Nhưng thà khó chịu, xung đột mà tồn tại còn hơn! Vấn đề còn lại là làm sao để chấp nhận nhau, chấp nhận những đau khổ khó chịu do những khác biệt của nhau. Tinh thần chấp nhận đó chính là một khía cạnh của Lòng Bao Dung.

Gia đình chính là một nơi sống chung, nơi hợp tác của những đơn vị yêu thương nhau nhất trong xã hội. Nhưng dù có yêu thương nhau đến mấy, gia đình vẫn gồm những phần tử rất khác biệt nhau nên không thể không có những xung đột, khó chịu, thậm chí đau khổ. Càng vui lòng chấp nhận những khác biệt đau khổ đó thì gia đình càng dễ có hạnh phúc. Trái lại, gia đình sẽ trở thành hoả ngục trần gian ngay nếu các phần tử không muốn chấp nhận những phiền toái bực bội gây ra do sự khác biệt lẫn nhau.
Sự khác biệt nhau trong gia đình tuy gây ra nhiều xung khắc nhưng rất cần thiết. Vì thế, Thiên Chúa sinh ra vợ chồng có tâm lý khác biệt để bổ túc nhau. Chẳng hạn người chồng có cái nhìn tổng hợp bao quát, còn người vợ có cái nhìn phân tích chi li nhỏ nhặt. Gia đình tồn tại được, hạnh phúc được đều cần cả hai kiểu nhìn đó, mà một người thì không thể có được cả hai. Ý thức được như vậy, cả hai vợ chồng sẽ lắng nghe lập trường của nhau để có thể nhìn vấn đề một cách đầy đủ hơn, để hành động sáng suốt hơn. Sự sáng suốt thường không nằm ở một bên mà nằm ở giữa, tức là sự dung hoà giữa hai lập trường đối lập.

Vì thế, sự bao dung trong gia đình cũng như ngoài xã hội là điều hết sức cần thiết để gia đình, xã hội tồn tại và hạnh phúc. Người có lòng bao dung là người không những sẵn sàng đón nhận mà còn mong muốn dành chổ đứng và đất sống cho những tư tưởng hay lập trường khác với mình, để gia đình, xa hội, cũng như thế giới phù hợp với luật tự nhiên và chương trình của Thiên Chúa là muốn cho thế giới muôn hình muôn vẻ để cộng tác và yêu thương lẫn nhau.

                                                                 
Giáo sư Nguyễn Chính Kết
                                                (Trích dẫn từ Ephata Việt Nam số 35, năm 2001)

                                                                                               Hoàng ve chai sưu tầm

Sưu Tầm




                                    HÃY CHO NHAU NỤ CƯỜI


Có lần mẹ Têrêsa thành Calcutta kể lại câu chuyện như sau:
Nhiều người đến thăm tôi tại Calcutta và trước khi ra về thường ngỏ ý với tôi: "Xin cho chúng tôi một lời khuyên để chúng tôi sống tốt đẹp hơn".
Tôi liền bảo họ: "Quí vị hãy về và hãy ban tặng cho nhau những nụ cười. Một nụ cười cho vợ của ông. Một nụ cười cho chồng của bà. Một nụ cười cho con cái của ông bà. Hãy cười tươi với tất cả mọi người, bất luận người đó là ai. Với những nụ cười tươi như thế quí vị sẽ lớn lên trong tình yêu hỗ tương.”
Nghe vậy một người trong nhóm hỏi tôi:
 Bà có lập gia đình không?
Tôi gật đầu và nói:
- Ðôi khi tôi cũng cảm thấy khó nở một nụ cười với vị hôn phu của tôi.
Và mẹ Têrêsa kết luận:
- Ðúng thế, Chúa Giêsu có thể đòi hỏi rất nhiều. Và chính khi Ngài đòi hỏi như thế thì không gì đẹp cho bằng nở một nụ cười thật tươi với Ngài.
Bạn thân mến! 

Các sách Phúc Âm không ghi lại một nụ cười nào của Chúa Giêsu mà chỉ đôi ba lần nhắc đến những thổn thức và tiếng khóc nức nở của Ngài. Vậy mà cả cuộc đời, những lời rao giảng, những việc làm và nhất là cái chết của Ngài được gọi là Tin Mừng. 

Chúa Giêsu mang đến cho con người một Tin Mừng, bởi vì qua cuộc sống, cái chết và sự phục sinh của mình, Ngài đã mang đến cho mọi người con đường hy vọng. Ðau khổ và sự chết đã bị khắc phục, bởi vì hy vọng, niềm vui, sự sống đã bừng dậy từ đau khổ và sự chết của Chúa Giêsu.
Chúa Giêsu chính là nụ cười của Thiên Chúa gửi tặng chúng ta. Trong Ngài con người tìm được ý nghĩa của cuộc sống, ngay cả khi gặp thất bại, khổ đau. Trong Ngài con người tìm được niềm vui, ngay cả khi thua thiệt mất mát. Trong Ngài, con người tiếp tục hy vọng, ngay cả giữa những giờ phút tăm tối nhất của cuộc đời.
Nụ cười lôi cuốn nụ cười. Chúa Giêsu đang chờ đợi nơi con người một nụ cười đáp từ:
- Cười vui với Ngài là biết đón nhận từng phút giây trong cuộc sống và mọi biến cố với tất cả tin yêu, hy vọng và phó Thác.
- Cười vui với Ngài là luôn sẵn sàng nhận ra Ngài với khuôn mặt của mỗi người anh em.
- Cười vui với Ngài cũng có nghĩa là biết trao ban một ánh mắt cảm thông, một nụ cười thân thiện, một lời nói ủi an tha thứ với tất cả mọi người.
     Lạy Chúa! Nụ cười không mất tiền mua, không phải vất vả cực nhọc để đi xa mang về … Nụ cười thật dễ dàng để xuất hiện trên môi miệng và trên khuôn mặt nhưng sao con lại thấy thật khó khăn vất vả để trao tặng nụ cười trên khuôn mặt của con cho những người xung quanh …Con đã thay thế nụ cười bằng những cái nhăn mặt méo mó, bằng những ánh mắt giận dữ, bằng những cái lắc đầu xua tay và đôi khi bằng những lời nói làm đau lòng người khác. Xin cho con luôn ý thức rằng : mỗi khi con mang nụ cười đến cho những người xung quanh chính là lúc con dâng lên Thiên Chúa tình yêu và nụ cười, sức sống và
hy vọng của đời con . Amen 


                                                                                             Hoàng ve chai sưu tầm

THƠ: CA-NA TIỆC CƯỚI


THI CA TIN MỪNG CHÚA NHẬT II THƯỜNG NIÊN C
               (Gio-an 2, 1-11)




       CA-NA TIỆC CƯỚI

Ca-na tiệc cưới sướng vui thay
Hạnh phúc tràn trề với chén cay
Giữa cuộc tưng bừng nhà hết rượu
May thay có Mẹ Chúa nơi này.

“Không còn một giọt” Mẹ khều Con
“Cũng chẳng can gì Mẹ với Con”
Mẹ dặn người nhà lời dịu ngọt:
“Vâng lời Người dạy chớ chon von”.

Sáu chum đá lớn để trong sân:
“Đổ nước đầy chum chẳng ngại ngần”
“Hãy múc đem ra cho quản tiệc”
Diệu kỳ nước hóa Rượu Hồng Ân.

Đất trời Chúa phán một lời thôi
Gánh nước chẳng qua Chúa muốn tôi
Vinh hiển thông phần cho xứng đáng
Rượu ngon Chúa đã sẵn sàng rồi.

Đời tôi trắc trở lắm gian nan
Nặng gánh trần gian lụy khóc than
Chạy đến cậy nhờ Bà cứu giúp
Một lời Mẹ ngỏ, Chúa thông ban
          ----------------------------
      Giu-se Nguyễn Văn Sướng

TRÀ KIỆU: LỄ KHAI MẠC NĂM THÁNH GIÁO PHẬN



           Sáng sớm ngày 18/1/2013. Sân nhà thờ Giáo xứ đã nhộn nhịp vì Giáo dân tụ họp để lên đường hành hương Trà Kiệu tham dự Lễ khai mạc năm Thánh Giáo phận. Đông đủ các thành phần dân Chúa của Giáo xứ tham gia. Từ những bậc cao niên cho đến các em bé,  thôi thì đủ cả quý Soeur, quý chức, giáo dân chạy lên chạy xuống, gọi nhau, dặn dò, làm náo nhiệt cả sân nhà Thờ vốn thường nhật rất yên tĩnh.
          Khoảng 450 người  trên 8 chiếc xe khiến bầu khí lên đường thêm nức lòng hăng hái. Bắt đầu tập họp từ 6 giờ sáng, thế mà phải đến gần 7 giờ rưỡi chiếc xe đi đầu mới lăn bánh.            
           Kính mời Cộng đoàn xem lại một số hình ảnh để tường tận hơn về ngày Lễ.

                                        Cha Quản xứ ngồi xe số 6


                                        Trà Kiệu khi xe vừa tới





                        

                                       Thật cổ kính và thân thương      

            
               
                                 
                                   Cha điều khiển chung


                             Hai đại biểu của Thanh Bình


                                                  
                               Đức Giám Mục Giáo Phận 
                                  và Quý Đức Cha khách

                                         Quang cảnh trước Thánh Lễ
                                      
                                        
                                 Ban kèn Tây Đà Nẵng 

                                                  Khởi đầu đoàn rước


                                Giáo dân tham dự rất đông                      


                                Di ảnh Đức Cha tiên khởi Giáo Phận 
                          Phê-rô Ma-ri-a Phạm ngọc Chi
                                   
                            Một Cha Bề Trên ngoại quốc      

                                                                Quý Đức Cha
                                                 
                               Thánh Lễ đồng tế


                            Tạ ơn Chúa vì trời mát mẻ


                                         Đức Cha chủ Tế Phan-xi-cô 
                            Xa-vi-e Lê văn Hồng đang giảng

                                          
                                                             Dâng Lễ
                                        
                                            
                           Đức Giám Mục Giáo Phận công bố 
                          khai mạc năm Thánh Giáo Phận


                       ĐGM Giáo Phận tặng hoa cho quý  
                               Đức Cha  và hai Cha khách  

                     
                        ĐGM trao cờ lưu niệm cho Giáo xứ 
              
                                       
                                                   Sửa soạn ăn Trưa
                                                  
                                               Bữa ăn thân mật

        Đến khoảng 14 giờ, đoàn hành hương Giáo xứ Thanh Bình
lên xe tạm biệt Trà Kiệu sau khi đã cầu nguyện cùng Mẹ trên nhà Thờ núi. Hẹn gặp lại Cộng đoàn trong mục phóng sự khác.
                                        Gio-an Bao-ti-xi-ta Võ minh Tâm 
                             











                                   




                           





















TIN TỨC: LỄ KHAI MẠC NĂM THÁNH GIÁO PHẬN TẠI TRÀ KIỆU



Kính mời cộng đoàn xem lại một số hình ảnh về Thánh Lễ khai mạc năm Thánh của Giáo Phận tổ chức tại Trà Kiệu. 
                       Gio-an Nguyễn Huy Hoàng  thực hiện.

                                        Cầu nguyện trước khi lên đường



                                  Một tấm hình kỷ niệm




                                      
                                         Hoan hô Cha Bô-na Mai Thái


                                         Hoan hô Cha Giu-se Vũ Dần

                                       Hoan hô các Đức Giám Mục và phái đoàn các Cha
                                          
                                                            Đội dàn chào

                  Di ảnh Đức Giám Mục Tiên Khởi Đà Nẵng
                         
                                           Đoàn rước quý Cha đi trước

                                    Quý Giám Mục cất bước theo sau

                                                   Thánh Lễ đồng tế

         Cha Quản xứ dùng bữa với các em thiếu nhi                                  
                                     Gio-an Nguyễn Huy Hoàng

NGHỆ THUẬT NGHE VÀ NÓI





                             Vĩnh Biệt vì Ba Không Lắng Nghe Con

Thực tế mới làm người viết nhớ lại truyện cũ vì đã kể ở trong sách và ở nhiều lần chia sẻ.  Đó là ông Thương rất thương con, thương vợ, thương gia đình, thương mọi người. Nhưng ông rất khó thương vì ông chỉ thương theo cách của ông. Câu thường xuyên ông gắt lên trong gia đình là: “Vợ con mà không thương thì thương người hàng xóm à? Nhưng nước có luật thì nhà này cũng phải có luật.” Ông nói đúng nhưng làm sai, vì “luật” là vợ con phải nghe ông chứ ông không nghe vợ con. Khi hội họp việc chung, ông Thương cũng nói cùng chiều: “Cứ nghe tôi là mọi việc đều xong.” Đa số liếc mắt “đá lông nheo” làm hiệu để ông muốn nói gì thì nói, vì khi thỏa mãn tự ái rồi thì ông giúp đỡ tiền bạc rất hậu.
Trong các con của ông Thương, người khi nhỏ ông thương hơn cả lại là người khi lớn ông ghét hơn cả.  Đó là anh Tâm. Ông Thương không nghe Tâm, mà Tâm cũng không nghe ba. Cha con Thương&Tâm cư xử với nhau tương tự chuyện này: Vua cha băng hà, và vua con lên kế vị. Bàn dân tưởng vua cha làm thế nào thì vua con cũng làm thế, nhưng vua con đảo ngược. Điều cha ra lệnh làm thì con ra lệnh bỏ, còn điều bỏ thì làm. Vua con tự bênh vực mình: Trẫm làm giống như vua cha, vì cha không nghe ai mà bàn dân phải nghe cha, thì trẫm cũng không nghe ai, mà ai cũng phải nghe trẫm.”
 

Cách cư xử trong nhà ông Thương cũng “truyền ngôi” như vậy, vì ông la gắt và các con cũng la gắt giống ông. Cao điểm của đời sống một chiều chủ quan, của con tự ái giống bố, của không ai nghe ai, chính là cái chết thật thương tâm. Đó là một tối nọ, anh Tâm cầm chìa khóa xe ra cửa. Ông Thương quát: “Liệu hồn về đúng giờ. 11 giờ mà chưa về thì chết với tao.” Anh Tâm mặt vênh vểnh giống như ông Thương cũng vểnh mặt nhìn con. Bốn mắt giao nhau không để tỏ tình thương nhau, mà để thách thức. Nửa đêm anh chưa về; khi về thì gần một giờ sáng. Ông Thương cầm sẵn cái cán lau nhà, vừa phang vào người Tâm vừa hét: “Mày không nghe tao hả. Không nghe này… Không nghe này…” Mỗi tiếng hét “không nghe” là mỗi cái quật. Tâm hét lại: “Ba nghe con nói… Nghe con… Nghe…” Vừa hét vừa đỡ đòn, rồi chạy xốc vào phòng. Sau vài giây, Tâm đạp phăng cửa, ra sừng sổ to hơn nữa: “Ba nghe… Nghe con…” Ông Thương giơ cái gậy thẳng cánh: “Nghe này… Nghe…” Tâm cúi đầu tránh kịp, chạy biến vào trong phòng. Sập cửa “rầm.” Nhà yên lặng. Cái yên lặng rợn người giữa nửa đêm về sáng. Yên lặng ngột ngạt. Yên lặng chết người. Rồi thình lình có tiếng nổ chát chúa. Ông Thương sấn sổ muốn nhẩy vào phòng Tâm, nhưng cửa khóa. Khi cậy được cửa thì Tâm ngấp ngỏai trên vũng máu, mắt trợn trừng. Ông Thương xốc con lên đúng lúc con thì thào “Ba không nghe con…” Ông quát “mày không về đúng giờ thì chết với tao” và con đã chết trên tay ông.
Thương con thì có mà hiểu con thì không
Không ai lắng nghe ai
Ba không lắng nghe con
Con không lắng nghe ba
Nên con chết trên tay ba.
Khi hòan hồn, ông Thương nhìn xung quanh thì thấy cây súng lục của ông nằm lăn trên vũng máu còn nóng hổi. Tâm dùng ngay súng của ba để bắn chết mình. Bên cạnh là tờ giấy nguệch ngọac hang chữ: “Vĩnh biệt ba vì ba không lắng nghe con.”
Ông Bush gây ra chiến tranh Iraq phải chăng vì không lắng nghe quốc hội, không lắng nghe triệu triệu tiếng nói? Quân khủng bố gây ra những khủng bố rợn rùng, phải chăng vì người lãnh đạo độc tài lừa lọc, không tạo cho dân lành nghe theo tiếng lương tâm, mà đánh lạc lương tâm họ, bằng cách nhồi sọ “Cứ ôm thuốc nổ đi. Chết xong là có bốn trinh nữ chờ sẵn...” Nhiều đòan thể, người có trách nhiệm, và nhiều người cha, người mẹ cũng đánh lạc lương tâm mình và lương tâm người nghe bằng những lý luận, hoặc những hứa hẹn mơ hồ, mộng tưởng, nửa thật nửa giả, nên cũng tạo ra những hậu quả thương tâm như cha con ông Thương & Tâm.
Muốn nghe thì cần có người nói.
      Trừ người thánh hay người điên, còn người bình thường dễ sợ hãi, không dám ở trong nghĩa địa, vì các người trong nghĩa địa không nói; mà nếu người chết nào từ trong mồ chui ra để nói thì người sống lại càng sợ, hú hồn.
      Vì vậy ai im ỉm không nói, thì xác còn sống nhưng con tim giá lạnh như đã chết. Người sống cần sống gần thân xác còn nói chứ không gần thân xác bất động, rữa thối trong nghĩa địa.
      Còn ai nói châm chọc, cay đắng, nói gian dối, vu khống, nói dựng chuyện, rỉ tai, v.v., thì đặt người nghe vào ổ kiến lửa; bị châm chọc, đau đớn. Con người cần tránh đau đớn, nhất là đau đớn đời sau, nên cần xa tránh, không nói vu khống, xuyên tạc. Nhất là tránh cố ý xuyên tạc.
      Vợ chồng bỏ nhau, con bỏ nhà, bạn hữu bỏ nhau, thường là do phải sống với người có miệng cũng thừa, vì miệng để nói mà không nói; hoặc do phải sống với người thừa miệng, vì nói thừa thãi, độc địa. Người miệng thừa hay người thừa miệng đều xô đẩy người gần mình vào cảnh nghĩa địa hoặc cảnh kiến lửa. 
Và đa số  chỉ muốn nói khi có người nghe. Nói mà không cần ai nghe thì đó là nói nhảm, nói điên, trừ trường hợp “nói với mình” trong khoa chữa bệnh tâm lý. Đây là cách mình nói cho mình nghe được tiếng mình để thấy được tâm tính của mình, thấy con người thật của mình. Như vậy trong cách tự nói để chữa tâm bệnh này vốn có người nghe, đó là mình. Tưởng sẽ trở lại chủ đề này trong một bài khác.
      Có người nghe lơ đãng, nghe “để ngòai tai,” nghe vô hồn, nghe khách sáo, nghe xã giao, v.v. Nghe mà không chú ý, không nghe “hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức lực” thì không đem lại nhẹ nhàng thỏai mái cho người nói.
      Thà lắng nghe trong 5 phút hay 15 phút, còn hơn bị hờn giận trong 5 giờ, 5 ngày, có khi 5 tuần. Và như ba Thương và con là Tâm, vì thiếu lắng nghe nên đưa tới cái chết thương tâm!
Có khi chỉ  cần lắng nghe mà không cần cho ý kiến, không cần giúp giải pháp, vì người nói biết giải pháp rồi. Nói vì có nhu cầu nói, chứ không có nhu cầu tìm giải pháp. Đa số chỉ cần chú ý lắng nghe là đã giải tỏa cõi lòng. Như khi vợ hay chồng bị căng thẳng trong sở làm, trong hội đòan, trong việc buôn bán thương mại, hoặc trong việc bị tán tỉnh trăng hoa. Lúc đó mà mở miệng khuyên bảo, nhất là mở miệng ghen tương, thì đúng là ghen. Là mất trí vì ghen. Lúc đó chỉ cần dịu dàng lắng nghe. Ân cần lắng nghe. Vừa nghe vừa nhìn chăm chú. Yêu thương. Gật đầu. Lắc đầu; v.v., thế là người nói cảm thấy nhẹ bẫng như tơ hồng. Tình yêu sẽ chung thủy trọn đời, đời đời, “Giữ Được Vợ” như anh Vọng nhờ biết lắng nghe tích cực.
Tuy nhiên, nếu người nói có giới hạn thì người nghe còn có  giới hạn hơn nữa, nên không thể nghe hòai. Do đó người nói và người nghe đều cần cố gắng, cần cầu nguyện, để “nói ngắn hơn” và “nghe dài hơn.” Chẳng hạn, nếu nói thỏa thích thì cần nói liên tục trong vài giờ. Nhưng vì biết người nghe không chú ý hòai được, và còn nhiều việc khác chứ không phải chỉ có một việc nghe mình nói, nên cố gắng rút gọn, nói trong 20 phút, hoặc tối đa là nửa giờ.
      Muốn nói ngắn thì hãy tưởng tượng như mình đang phải bỏ thời giờ ra để chú ý nghe chính những điều mình nói. Trong văn phòng tâm lý, có lọai chỉ ngồi để nghe nên con bệnh nói lâu bao nhiêu cũng được, nhưng phải trả  “công nghe,” có khi 300 đôla một giờ.
      Còn người nghe chưa đầy 5 phút đã muốn chặn họng, cắt ngang, ngáp dài, vươn vai, bẻ tay, nhìn giờ, v.v., thì cần nguyện tắt trong lòng: “Giêsu, Maria, Giuse. Con mến yêu. Xin cho con nhẫn nại, lắng nghe ít là 30 phút mà không cần khuyên bảo.”
      Nói mà nói ngắn, nghe mà nghe dài thuộc hàng nhân  đức. Không mến Chúa và yêu người chân thật thì  khó mà “nói ngắn, nghe dài.” Vì bác  ái nên cần tránh là gánh nặng cho người nghe vì  nói dài; và tránh là gánh nặng cho người nói vì nghe lơ đễnh.
Có khi chỉ  cần “nghe” bằng sự hiện diện, và  đây là việc tông đồ, thuộc hàng “Mục Vụ  Hiện Diện.” Sự chú ý, mắt nhìn, thái  độ ân cần, cử chỉ kính trọng, tòan thân tỏ ra sự quan tâm săn sóc, “ít lời nhiều lòng,”  đó là điều cần thiết và mang lại kết quả tốt trong đám tang, cũng như trong đám cưới, đám ăn sinh nhật, kể cả đám cãi nhau.
Nhân đức lắng nghe cần đi đôi với nhân đức giữ  kín đáo điều mình nghe. Gọi là nhân đức vì nếu biết kiên nhẫn lắng nghe và biết giữa kín đáo vì bác ái thì được an vui đời này và được Thiên Đàng đời sau. Kinh Thánh ghi nhận sự lắng nghe kín đáo này “Còn bà Maria thì hằng ghi nhớ những kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng” (Lk. 2: 19); hoặc “Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ những điều ấy trong lòng” (Lk. 2: 51). Nghe mà nói ra thì dễ làm cho người nói bị chạm tự ái, bị mất danh dự. Và làm cho mình bị mất tín nhiệm; bị tiếng là nông nổi, trống miệng.
Nghe hoặc lắng nghe là điều khẩn thiết đến mức Thượng Đế cũng nói và nghe. Kinh Thánh ghi Lời của Giêsu Vua Tình Yêu: “Lạy Cha, nếu đó là ý Cha thì xin cất chén này khỏi con, nhưng không phải theo ý con mà theo ý Cha được thể hiện” (Lk. 22: 42); hoặc “Lạy Cha, con cảm tạ Cha vì đã nghe con. Con biết rằng Cha luôn nghe con…” (Jn. 11: 41); v.v. 
Kết lại trong một câu là “Nói ít, Nghe nhiều.” Nếu ông Thương biết “Nói ít, Nghe nhiều” thì hẳn đã tránh được cái chết thương tâm của con, đã không phải đọc mẩu giấy bê bết trong vũng máu “Vĩnh biệt vì ba không lắng nghe con.”◙ 
                                                              LM Phêrô Chu Quang Minh, S.j.
                                                Gio-an Nguyễn Huy Hoàng sưu tầm và gởi đăng
               (Kính xin Cha Phê-rô cho con được trích đăng khi chưa gặp Cha để xin phép)